haschema

Parménide

Đăng bởi: haschema
Thursday, 30 Aug 2018

Sinh ra ở Grande Grèce (miền Nam Ý và đảo Sicile do người Hy Lạp thực dân hoá từ thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên) Parménide là đại diện lỗi lạc nhất của trường phái Élée. Những đoạn trong bài triết thi Về thiên nhiên của ông đã không ngừng, từ Thượng cổ, gây nên sự ngưỡng mộ sâu sắc của những nhà bình luận: Platon, Aristote, Plotin, Simplicius từ xưa cho đến Heidegger thời nay.

Nhưng ông muốn diễn đạt gì qua bài thơ triết lý này? - qua ảnh hưởng của Xénophane, ông quan niệm Nhất thể là hữu thể vật chất. Qua lời dạy của Ameinias, một môn đồ của Pythagore, ông viện đến những cặp đối lập (des couples d’opposés) để giải thích các hiện tượng thiên nhiên.

Và nhất là ưu tiên dành cho cái hiện hữu (il est) và trí tuệ lãnh hội hữu thể như là cái tương đồng (le semblable) của nó (bởi vì cái tương đồng thì được nhận biết bởi cái tương đồng), điều đó có đem lại hậu quả làm giảm giá cái khả giác (le sensible) hay không? Và cả cảm giác và dư luận là những thứ tương đồng với khả giác? Đó là vấn đề mà Parménide để lại cho triết học - và cho hậu thế.

{{% html5 tag="div" class="[email protected]" %}}

VỀ THIÊN NHIÊN (De la Nature)

Hữu thể và Vô thể (L’être et le non_ être)

Song song với Xénophane người lập ra nền thần học tiêu cực (la théologie négative), Parménide khai môn nền hữu thể luận tích cực (l’ontologie positive). Hữu thể, cái được suy tư, đối lập triệt để với vô thể. Về chuyện này ông tuyên bố: “cái gì có thể được suy tư và được nói ra thì hiện hữu. Bởi vì Hữu thể thực sự hiện hữu, nhưng hư vô thì không hiện hữu”.

Nhưng giờ đây chỉ còn mỗi con đường
Khả dĩ tư nghị 1: con đường hữu thể hiện tồn (a)
Trên con đường này có rất nhiều tiêu điểm
Chỉ rõ ràng, thoát khỏi việc sinh ra
Hữu thể cũng không bị huỷ hoại 2
Vì nó hoàn toàn là một khối 3
Được miễn trừ sự dao động và không có tận cùng.
Và không bao giờ đã là, và không bao giờ sẽ là.4
Bởi vì, gồm thâu trọn đồng thời, hữu thể luôn hiện tồn.
Một và một liên tục 5. Vì làm sao ta có thể
Gán một nguồn gốc nào cho hữu thể hiện tồn 6?
Bằng cách nào nó tăng trưởng và từ đâu nó tăng trưởng?
Ta cấm ngươi nói - và cũng đừng nghĩ nhé
Rằng hữu thể hiện tồn biết đâu chừng lại đến từ vô thể
Bởi người ta không thể nói hay nghĩ rằng nó không hiện hữu
Sự tất yếu nào đã đẩy nó đến hiện hữu
Hoặc chậm hơn hoặc sớm hơn, nếu chẳng phải là hư vô 7.
Mà nó có như nguyên lý? Do vậy phải nhìn nhận rằng
Hoặc là nó tuyệt đối hiện hữu, hoặc là nó chẳng hiện hữu chút nào 8
Cũng chẳng bao giờ sức mạnh gán cho diễn từ
Sẽ không thể bảo rằng từ hư vô lại sinh ra
Một hữu thể có khả năng gắn thêm vào
Vả chăng Dike 9 giữ chặt nó. Phải tuân theo quy luật
Hoặc là hiện tồn hoặc không hiện tồn 10
Vậy nên nó được thông báo, bởi tính tất yếu
Rằng nó phải bỏ con đường bất khả tư 11
Mà không ai có thể đặt tên (bởi đó không phải là
Con đường dẫn đến chân lý)
Và coi con đường kia là con đường đích thực
Chân chính và hiện tồn - và làm sao mà hữu thể
Lại có thể hoại diệt? Và có thể sinh ra (b)?
Nếu thực sự nó đã được sinh ra, như vậy là nó không hiện tồn,
Và nó cũng không hiện tồn nếu có một ngày:
Sự sinh thành của nó tắt đi, và sự biến mất của nó
Hiện ra như là không tránh khỏi
Và nó cũng không
Có thể phân chia, thật vậy, bởi vì nó là toàn thể ( c )
Không hề có, đây hay đó, thêm một cái gì
Có thể đối lại sự kết dính của nó
Hoặc bớt đi một cái gì. Nó chứa đầy hữu thể
Nên nó hoàn toàn liên tục. Thực thế, hữu thể
Ôm siết hữu thể, không rời, không kẽ hở
Vậy mà nó bất động 12
Dính vào trong những giới hạn của những ràng buộc chặt chẽ;
Nó không có khởi đầu cũng không có tận cùng
Bởi vì sự sinh thành cũng như sự hoại diệt
Đều đã được đẩy xa khỏi nó, và niềm tin
Đích thực cũng đã ném chúng ra xa
Đồng nhất với chính mình, nó an nhiên tự tại
Nó bất động mãi mãi nơi trụ xứ của mình
Bởi tính Tất yếu Kiên cường giữ vững nó
Trong những mối dây buộc chặt nó vào giới hạn
Do đó tại sao sắc chỉ tối cao đã được ban bố
Chiếu rằng hữu thể sẽ không có tận cùng
Nó không thiếu gì cả, thực thế - mà trái lại
Khi không hiện tồn, nó sẽ bị tước mất tất cả 13
Vậy mà tư duy thì đồng nhất với hữu thể 14
Với cái mà từ đó một tư tưởng đặc thù hình thành
Người ta sẽ hoài công tìm kiếm tư duy mà không có hữu thể
Nơi đó nó là một hữu thể ở trạng thái được nói ra
Và không bao giờ có cái gì khác hiện tồn và sẽ tồn tại 15
Ngoại trừ hữu thể, do sắc lệnh tối cao
Trao truyền bởi Định mệnh phải mãi mãi an trụ
Bất động trong toàn khối. Chính vì thế mà sẽ chỉ là
Hữu thể tính danh nghĩa (và thuần tuý là lộng ngôn)
Tất cả những gì mà người trần, tưởng rằng là thật,
Dùng một từ để chỉ: cái đó sinh ra rồi chết đi
Hiện hữu rồi không hiện hữu, thay đổi vị trí
Rồi thay đổi bề ngoài tuỳ theo màu sắc 16
Nhưng bởi vì cũng có một giới hạn cùng cực 17
Hữu thể được giới hạn và hoàn tất ở mọi phía
Và căng phồng ra giống một quả bóng, tròn vo
Từ tâm đến điểm đều cân bằng hoàn hảo
Vì không có một biến thiên nào, dù đây hay đó
Hiện hữu nhiều hơn hay ít hơn 18
Bởi vì chẳng có vô thể nào ngăn cản
Nó [hữu thể] đạt đến cân bằng hoàn hảo từ mọi phía
Cũng không hữu thể tự thân nào nhiều hơn hay ít hơn
Xét vì nó hoàn toàn bất khả xâm phạm
Về mọi hướng nó đồng đẳng với chính mình
Và cũng vậy nó chạm đến mọi giới hạn của mình
Đến đây ta kết thúc diễn từ
Nhằm bảo đảm cho tư tưởng hướng về chân lý
Từ đây hãy tìm hiểu dư luận của người phàm (d)
Bằng cách mở tai ra nghe giai điệu du dương
Của diễn từ được tạo ra để mê hoặc anh
Thật thế, theo quy ước, họ đã chỉ định
Cho hai hình thức tên gọi, tuy nhiên trong hai hình thức đó
Có một hình thức không xứng đáng - và chính vì chỗ đấy
Mà họ đã lạc đường. Vì họ đã nhận định
Ngược với các phương diện, và đã gán cho chúng
Những dấu hiệu tạo cơ sở cho sự phân biệt
Trong hai hình thức đó, một là ngọn lửa thuần thanh
Một màu xanh thuần khiết, tinh tế
Đồng nhất với chính nó trong mọi hướng
Nhưng không đồng nhất với hình thức kia
Hình thức kia, từ yếu tính, đối nghịch hẳn lại
Đó là đêm tối không ánh trăng, mịt mùng, đen kịt (e)
Này đây, như hiện ra trong toàn thể tính của nó
Hệ thống vũ trụ trong tổng sơ đồ bài trí
Mà ta sẽ miêu tả tỉ mỉ cho ngươi
Để không một người phàm nào
Biết rõ về nó hơn ngươi

{{%html5 tag="span" style="font-variant:small-caps"%}}**Parménide**{{%/html5%}}, Về thiên nhiên

{{% html5 tag="div" class="uk-text-small"%}}

HỮU THỂ, VÔ THỂ, HỮU THỂ HỌC, KHOA HỌC, DƯ LUẬN

a. Nơi phần tự ngôn của Về thiên nhiên, nữ thần đã hứa với kẻ xin khai tâm sẽ mặc khải cho anh ta hai con đường: “con đường thứ nhất là hữu thể có, vô thể không có, đó là con đường chân lý và con đường thứ hai là hữu thể không có và như thế tất yếu là vô thể có, đó là con đường của dư luận, con đường dẫn đến sai lầm”.

b. Lặp lại luận chứng phủ nhận sinh diệt, bằng cách, chỉ ra rằng tính vị tất của chúng ngược lại với tính tất yếu hữu thể học

c. Hữu thể là không thể phân chia và liên tục

d. Tại đây mở ra phần hai của bài thơ, sẽ xét đến không phải nguyên lý (hữu thể) nữa mà là những vô thể tức là những thực tại tự nhiên, đối tượng của dư luận chứ không phải của trí tuệ và bản chất không còn là nhất thể nữa mà là phức thể.

e. Lửa và đêm là những đối thể trong ngôn ngữ của phái Pythagore. Mười một đoạn còn được bảo lưu của phần tiếp theo của bài triết thi này khảo sát về những hiện tượng thiên nhiên, với sự quan tâm đặc biệt dành cho những vấn đề thiên văn học và sinh vật học.

1

Nghĩa là có thể nghĩ đến được, quan niệm được, bàn luận được 2: Không sinh, không diệt 3: Hoàn toàn là một 4: Tính vĩnh hằng của hữu thể, thoát ra khỏi quá trình vận động sinh thành 5: Một, tất cả, liên tục 6: Không chấp nhận nguyên lý… 7: … vì nguyên lý đó sẽ là hư vô 8: Đối kháng triệt để giữa hữu thể và vô thể 9: DiKè: nữ thần công lý 10: Tính tất yếu hữu thể học (La Nécssité ontologique) 11: Con đường thứ nhì, con đường của vô thể 12: Bất động do tính tất yếu hữu thể học chịu trách nhiệm về những mối ràng buộc 13: Không có khiếm khuyết do đó mang tính tự túc 14: Xem lại phần dẫn nhập của chương này 15: Kiểu lặp lại trong giáo huấn 16: Ta thấy ở đây sự phân loại tuỳ theo: hữu thể hay chất thể: sinh và diệt ; nơi chốn: chuyển động địa phương ; phẩm chất: sự thay đổi ( các màu sắc) ; lượng tính: tăng hoặc giảm 17: Định đề này không đưông nhiên. Mélissos cũng như Anaximandre đều phủ nhận nó 18: Cái bị phủ nhận, đó là chuyển động theo lượng tính: tăng hoặc giảm.