haschema

Chương 10: Tấn Thần và Thoái Thần

Đăng bởi: haschema
Thursday, 27 Sep 2018

Tấn Thần và Thoái Thần là do hào động biến ra. Cát hung hoạ phúc của Tấn Thoái Thần được phân ra có lúc nên có lúc kỵ. Việc tốt thì nên hoá Tân, việc xấu thì nên hoá Thoái.

Tấn Thần cũng như Thoái Thần đều phân thành 4 cách:

Tấn Thần:

  1. Vượng tướng,hoá vượng thừa thế mà tiến
  2. Động mà hưú tù, hoá hưu tù,đợi thời mà tiến
  3. Động hào, Biến hào có một bì hưu tù cũng đợí lúc vượng tướng mà tiến.
  4. Động hào hay Biến hào, có một hào gặp Không, Phá thì đợi lúc điền thực mà tiến.

Thoái Thần:

  1. Vượng tướng, hoá vượng tướng hoặc được Nhật Nguyệt, động hào sinh phò mà xem việc gần, được thời chẳng thoái.
  2. Động hưu tù, hoá hưu tù đến lúc sẽ thoái.
  3. Động hào, Biến hào có một vượng tướng thì đợi lúc hưu tù sẽ thoái.
  4. Động hào hay Biến hào, có một hào gặp Không, Phá, thì đợi lúc điền thực sẽ thoái
TuấtTài - ỨNG
xThânQuan (hóa Dậu)
NgọTử
DậuQuan - THẾ
HợiPhụ
SửuTài

Thế trì Dậu Kim là Quan tinh vượng, lại được Nhật thần xung động, mà Dụng Thần Thân Kim động hoá Tấn, nên không chỉ đậu vào mùa Thu (lúc Quan tinh vượng) mà còn đậu vào mùa Xuân (tháng Mão) nữa. Người xem quẻ này sau quả đậu liên tiếp.

oTịTử (hóa Tị)
xMùiTài (hóa Tuất) - THẾ
oDậuQuan (hóa Thân)
ThìnTài
DầnHuynh - ỨNG
oPhụ (hóa Mùi)

Thế trì Tài hoá Tấn thần, Tị Hoả vượng động sinh Thế, nhưng Tị là động hoá Tí Thuỷ hồi đầu khắc, đợi đến ngày Ngọ xung Tí, mà Ngọ lại hợp với Thế (Ngọ hợp Mùi) tất thành tựu. Sau quả cầu hôn thành vào ngày Ngọ.

Trong quẻ có hào Dậu là Quan động nhưng hoá Thoái nến không có tác dụng, hào Tí là Phụ hoá Mùi hồi đầu khắc cũng chẳng có tác dụng. Chỉ có chuyện Mùi Thổ là Thế hoá Tuất tức hoá Không, nhưng Mùi được hào Tị vượng sinh nên hoá Không vẫn tốt.

Huynh
TuấtQuan
ThânPhụ - ỨNG
xSửuQuan (hóa Thìn)
MãoTử
TịTài - THẾ

Sửu Thổ là Quan tình vượng hoá Tấn thần, Thế lại vượng nên đến ngày Sửu tất được. Sở dĩ không ứng với ngày Thìn vì Thìn bị Nguyệt phá.

oTuấtTử (hóa Mùi) - ỨNG
ThânTài
NgọHuynh
Tuần KhôngHợiQuan - THẾ
SửuTử
MãoPhụ

Thế trì Quan Hợi thủy hưu tù lâm Không thì trước mắt chưa thể ra làm quan, nhưng Kỵ thần Tuất thổ hoá thoái nên sẽ không khắc được Thế. Đến năm Thìn xung Tuất, Kỵ thần hoàn toàn suy tức được tuyển dụng.

MùiHuynh
oDậuTử (hóa Thân) - THẾ
HợiTài
ThìnHuynh
DầnQuan - ỨNG
Tài

Thế trì Tử Tôn vượng nên dù hoá thoái đến ngày Thìn thổ sẽ gặp được lương y mà lành bệnh. Quẻ này nhờ động biến đều thuộc Kim mà xem cận bệnh nên thối mà chẳng nguy.

Vd: Ngày Quí Mùi tháng Tuất xem bệnh được quẻ Càn biến Quải:

oTuấtPhụ (hóa Mùi) - THẾ
ThânHuynh
NgọQuan
ThìnPhụ - ỨNG
DầnTài
Tử

Quẻ bói này xem bệnh lâu ngày (cửu bệnh) mà gặp quẻ lục xung tất khó tri. Hơn nữa Thế trì Phụ vượng tướng nên dùng thuốc hay cũng chẳng lành. Thế tuy hoá thoái nhưng kinh mạch khô dần, gặp năm tháng xung Mùi thổ là hết đường.

Về sau chết vào tháng Sửu.

MùiPhụ
oDậuHuynh (hóa Thân)
HợiTử - ỨNG
NgọQuan
ThìnPhụ
Tuần KhôngDầnTài - THẾ

Thế trì Tài lâm Không như bị Kỵ thần là Dậu Kim vượng khắc. Thế tuy lâm Không mà Kỵ thần Dậu lại hoá Thoái nhưng vẫn chịu khắc không tránh được. Trong quẻ có hào Mùi ám động sinh Kỵ thần khiến Kỵ thần càng vượng, về sau chết vào tháng Mùi.

xMùiTài (hóa Tức) - ỨNG
DậuQuan
HợiPhụ
NgọTài - THẾ
ThìnHuynh
oDầnPhụ (hóa Mùi)

Đoán rằng: Tí thuỷ là hào Phụ hoá Mùi thổ hồi đầu khác. Mùi hào hoá Tấn thần khắc Phụ Mẫu. Nên phòng vào ngày Tuất.

Quả sau chết vào ngày Tuất là ngày Tuất thổ xuất Không.

Theo cổ pháp thì Tán (hưu tù bị Nhật xung) thì xem như chẳng có. Quẻ này Mùi thổ bị Nhật thần Sửu xung, lại hoá Không, Nguyệt phá mà chẳng có tán gì cả.

Huynh
TuấtQuan - ỨNG
ThânPhụ
ThìnQuan
xDầnTử (hóa Mùi) - THẾ
Huynh

Thế hào Dần mộc hoá Tân thần thì sắp đi, nhưng bị Nguyệt phá nên ra khỏi tháng mới đi được.

Sau đến tháng Hợi thì đi từ Yên đến Việt, tháng tám năm sau mới về.

Ta hỏi: Đi đường có bình an không?

Đáp: Rất yên ổn.

Ta thấy trong quẻ Tử Tôn động hoá Tấn thần, biết bình an nên mới hỏi như vậy. Ứng vào tháng Hợi vì Phá mà gặp Hợp. Đấy là động gặp Phá, hoá Tấn thần thì không Tấn hay sao?

oTuấtHuynh (hóa Mùi)
ThânTử - THẾ
NgọPhụ
SửuHuynh
MãoQuan - ỨNG
TịPhụ

Huynh động hoá Thoái thần là anh có ý quay về. Nhưng Tuất bị Nguyệt Phá thì ở ngoài chẳng an, mọi việc chẳng toại. Tháng sáu thì có thể ngóng trông được rồi.

Về sau đến tháng Tuất mới về, ứng với lúc thực Phá. Đó là động Phá hoá Nhật Nguyệt há chẳng thoái sao?

TịQuan - ỨNG
MùiPhụ
DậuHuynh
oThìnPhụ (hóa Sửu) - THẾ
DầnTài
Tử

Quẻ này xem bệnh cho cháu nội. Phụ Mẫu lâm Nguyệt kiến động hoá thoái, thế mà hôm sau cháu chết.

TuấtTài
xThânQuan (hóa Dậu) - ỨNG
NgọTử
NgọTử
ThìnTài - THẾ
DầnHuynh

Đoán rằng: Quan động hoá Tấn thần, mùa thu tất được lên chức.

Sau được thăng vào tháng Tị. Ứng vào tháng Tị là động mà gặp hợp. Thân lại Trường Sinh ở Tị.

Há động hoá Không Phá là không tấn sao?

xMùiPhụ (hóa Tuất) - THẾ
DậuHuynh
HợiTử
SửuPhụ - ỨNG
MãoTài
oTịQuan (hóa Dần)

Đoán rằng: Phụ hoá Tấn thần, Tị hoả là Quan tinh sinh Thế, hiển nhiên là điềm tốt, cứ ngồi chờ tin.

Quả ngày Dần yết bảng thì đậu thứ tám.

Theo cổ pháp động phá hoặc động tán, hoá Nhật Nguyệt thì không thể tấn, Quẻ này động tán hoá Không mà cứ vẫn tấn.

oTịQuan (hóa Tị) - ỨNG
xMùiPhụ (hóa Tuất)
oDậuHuynh (hóa Thân)
ThìnPhụ - THẾ
DầnTài
oTỬ (hóa Sửu)

Sơ hào Tí thuỷ hoá Phụ Mẫu là Sửu thổ. Tí hợp với Sửu thì chẳng về được. Mùi Phụ hoá Tấn cũng tượng không về. Dậu Huynh hoá thoái hợp Thế thì mẹ không về nhưng anh em về.

Người xem nói: Tôi chỉ có em gái.

Quả tháng ba sang năm thì em gái về.

Đấy là Huynh hoá Không mà vẫn thoái.

TịTử
xMùiTài (hóa Tuất) - THẾ
DậuQuan
xThìnTài
DầnHuynh - ỨNG
oPhụ

Tài hào trì Thế hoá Tấn thần là tượng dài lâu và phát triển. Ta nói: Lấy ngày Giáp Tuất khai trương thì đại phát.

Quả khai trương vào ngày Tuất, quả tiệm bán thịnh vượng.

MùiTử - THẾ
oDậuTài (hóa Tuất)
HợiQuan
xSửuTài - ỨNG
oMãoHuynh
TịPhụ

Dậu là Huynh Đệ bị ngày Mão xung tán, tuy hoá Thân là Nguyệt kiến cũng không kịp thoái, mà không kịp thoái tất gặp được.

Quẻ này bảo mà bảo không kịp thoái là sai.

Trong phần Nguyệt Tướng có nói hào lâm Nhật Nguyệt gặp Tán thì chẳng bị Tán, các chương khác trong sách có nhiều phần để chiêm nghiệm. Riêng trong chương này có nhiều phần viết bậy, chẳng do kinh nghiệm.